Mar 25 (edited) • THẢO LUẬN
“CHỊ ƠI, LÀM SAO ĐỂ HỌC VIÊN YÊU TIẾNG VIỆT?”
Hôm trước em hỏi mình câu này, và mình thấy rất thú vị, vì đây cũng là băn khoăn chung của rất nhiều giáo viên trẻ mới vào nghề. Hôm nay, mình sẽ ngồi cùng các bạn, dùng chính những gập ghềnh của gần 20 năm đi qua nghề dạy tiếng Việt để bóc tách những tầng ẩn sâu trong câu hỏi này nhé.
Nguyên văn em Hoa tâm sự thế này: “Em luôn có cảm giác thiếu thiếu điều gì đó trong lớp học. Học viên nước ngoài lần đầu học tiếng Việt, họ như trang giấy trắng. Họ cảm giác bị ngộp vì sao tiếng Việt có quá nhiều hư từ tình thái, vì sao lại quá nhiều đại từ nhân xưng, vì sao phát âm và thanh dấu phức tạp đến thế… Ở nước họ là tư duy kiểu logic, mọi thứ rõ ràng, dứt khoát, nhưng ở tiếng Việt, mọi thứ nó quá linh hoạt. Cái khó của một người làm nghề này, em nghĩ là: "Làm sao để cho học viên cảm thấy yêu tiếng Việt?". Đây là câu hỏi em đang đi tìm câu trả lời, vì nếu như mục đích học tiếng Việt của họ chưa đủ lớn, họ thiếu động lực khi học tiếng Việt thì rất dễ từ bỏ”.
Thật ra khi đọc tâm sự này của Hoa, mình đã mỉm cười. Băn khoăn này mình đã từng gặp đi gặp lại ở rất nhiều giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, đặc biệt là những người mới vào nghề: “Làm sao để học viên yêu tiếng Việt?” Nghe thì điều này rất lí tưởng, rất nhân văn đúng không? Nhưng nếu nhìn kĩ, đây lại là dấu hiệu của một độ lệch rất tinh vi trong cách hiểu về nghề mà chính người dạy thường không nhận ra, khiến càng dạy càng băn khoăn, càng mệt mỏi.
Thứ nhất, học viên của em không phải “trang giấy trắng” như em nghĩ. Đây là một hiểu lầm khá phổ biến về giáo dục học người lớn. Người nước ngoài khi học tiếng Việt đã có sẵn một hệ thống ngôn ngữ, tư duy, văn hoá rất vững. Họ không học theo kiểu đổ kiến thức vào đầu. Họ luôn so sánh, đối chiếu, thậm chí phản biện lại những gì em dạy. Nếu em coi họ là “trắng”, em sẽ dạy theo kiểu giải thích từ đầu mọi thứ, và đó là lúc lớp học bắt đầu nặng nề.
Thứ hai, cái mà em gọi là “linh hoạt” của tiếng Việt, thực ra nó là một hệ logic khác. Vì bản thân em chưa nhìn ra logic đó của tiếng Việt, nên em dễ rơi vào hai thái cực: một là liệt kê cho học viên học thuộc, hai là giải thích vòng vo theo cảm tính. Đây là hiểu lầm của nhiều giáo viên trẻ, coi tiếng Việt chỉ là sự "linh hoạt" nên dẫn đến cách dạy tùy hứng, thiếu hệ thống, khiến học viên càng cảm thấy hoang mang vì ngộp thở và không tìm thấy quy luật.
Thứ ba là một điểm lệch lớn nhất mà ít ai nhận ra: Em đang loay hoay nghĩ cách làm cho học viên “yêu tiếng Việt”, trong khi thực sự họ chỉ cần một công cụ để dùng được ngay trong cuộc sống. Tình yêu ngôn ngữ là hệ quả đến sau. Học viên không cần yêu ngôn ngữ trước rồi mới học, mà họ cần dùng được trước, rồi mới nảy sinh cảm xúc sau.
Khi một người lần đầu mặc cả được bằng tiếng Việt, hiểu được đồng nghiệp đang nói gì, hay nói chuyện trơn tru với gia đình người yêu… họ sẽ tự nhiên gắn bó với ngôn ngữ đó. Không ai cần phải “truyền lửa” cho họ trong những khoảnh khắc đó cả. Ngược lại, nếu mỗi buổi học đều xoay quanh việc giải thích vì sao tiếng Việt “khó và khác”, thì dù em có nhiệt tình đến đâu, học viên vẫn cảm thấy mình đang đứng ngoài một hệ thống mà họ chưa đủ giỏi để bước vào.
Một điểm nữa mà Hoa và các bạn có thể nhìn lại rất kĩ: cảm giác “ngộp” của học viên không đến từ bản thân tiếng Việt đâu, mà nó đến từ cách giáo viên đang dạy. Khi đưa ra danh sách hư từ, bảng đại từ, quy tắc phát âm… em đang yêu cầu học viên hiểu trước khi được dùng, trong khi cách tự nhiên của ngôn ngữ luôn là: dùng trước, hiểu sau.
Vậy giải pháp là gì? Không cần tìm thêm hoạt động hay “tạo động lực” cho học viên nữa, chỉ cần ĐỔI LẠI TRỌNG TÂM:
  • Không cần cố giải thích cho rõ, mà nên bắt đầu từ việc làm cho nó có ích.
  • Thay vì dạy cấu trúc, hãy tạo ra các tình huống.
  • Tránh đưa kiến thức kiểu trình bày liệt kê, hãy buộc học viên phải phản ứng.
Ví dụ, đừng dạy một loạt đại từ xưng hô mà hãy đặt học viên vào một bữa cơm gia đình và hỏi: “Nếu em gặp mẹ người yêu lần đầu, em sẽ xưng hô thế nào?”. Lúc đó, đại từ không còn là bảng để học, mà là một lựa chọn có áp lực, có cảm xúc. Chính trong những khoảnh khắc như vậy, ngôn ngữ mới thực sự “dính” được.
Hoặc thay vì giải thích hư từ tình thái, hãy đưa ra hai cách nói khác nhau trong cùng một tình huống và hỏi: “Câu nào nghe lịch sự hơn? Vì sao?”.v.v… Như vậy em đang giúp họ cảm được logic ngữ dụng thật, chứ không phải chỉ là học thuộc một danh sách các từ à ư nhỉ nhé…v.v...
Khi họ dùng được, họ sẽ tự thấy mình tiến bộ, và đó mới là động lực mạnh nhất. Em sẽ không còn phải loay hoay đi tìm động lực để khiến học viên yêu tiếng Việt nữa.
Nghề dạy tiếng Việt cho người nước ngoài hiện đang thừa những tài liệu và phương pháp theo kiểu bề mặt, nhưng lại rất thiếu một cách tư duy sâu để phân biệt được giữa việc đang dạy “ngôn ngữ trong sách” hay đang giúp một người sử dụng ngôn ngữ đó trong đời sống thật.
Khi giáo viên chưa nhìn ra điều này, sẽ luôn cảm thấy lớp học “thiếu thiếu”. Còn khi em nhìn ra rồi, em sẽ hiểu: không phải mình thiếu cái gì để dạy, mà là mình đang đặt lệch trọng tâm ngay từ đầu.
Tóm lại: Hoa cũng như các giáo viên trẻ hiện nay, đang có một trái tim “nóng”, nhưng cần một cái đầu “lạnh” hơn về phương pháp để không bị đuối sức trong việc truyền lửa, khi mà học viên chưa kịp thấy "ấm".
Tối nay có thời gian thư thái, mình xin góp cùng cả nhà một góc nhìn hơi dài như vậy. Có bạn nào cảm thấy điều này cũng quen quen với mình không?
Ms. Hồng Diễm
Dạy tiếng Việt đúng chất Việt
9
7 comments
Hồng Diễm
7
“CHỊ ƠI, LÀM SAO ĐỂ HỌC VIÊN YÊU TIẾNG VIỆT?”
5m.
skool.com/5-minutes-vietnamese-4316
Biến ngôn ngữ thành cổ máy in tiền bằng chính chuyên môn của bạn ngay cả khi bạn không giỏi ngoại ngữ.
Leaderboard (30-day)
Powered by